Bức tranh ngành cảng biển: Tăng trưởng lượng hàng container qua hệ thống cảng Việt Nam là 9,2%, cao nhất khu vực Đông Nam Á


FPT Security (FPTS) dự đoán rằng, tăng trưởng lượng hàng container qua hệ thống cảng Việt Nam sẽ cao nhất trong khu vực, nhưng biên lợi nhuận thì còn thấp.

Cảng cái mép thị vải

Vị trí thuận lợi, tăng trưởng lượng container cao

Việt Nam có vị trí nằm ngay cạnh Biển Đông – một cầu nối thương mại đặc biệt quan trọng trên bản đồ hàng hải thế giới. Ngoài ra, điều kiện tự nhiên thích hợp cho việc xây dựng và phát triển các cảng nước sâu. Bên cạnh đó, tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa đang ngày càng sôi đôi. Đó là những ưu điểm của ngành cảng biển Việt Nam.

Tuy hệ thống cảng biển manh mún, phân tán dẫn tới cung vượt cầu, khai thác không hiệu quả, đặc biệt là khu vực Hải Phòng và Đông Nam Bộ, theo báo cáo Ngành cảng biển Việt Nam tháng 7/2017 của FPTS. Báo cáo này cũng chỉ ra rằng việc tối ưu hóa năng lực xếp dỡ vẫn còn chưa giải quyết được, việc áp dụng công nghệ chưa được triển khai đồng đều.

Dự báo tăng trưởng cho 8 quốc gia khu vực Đông Nam Á (Việt Nam, Thái Lan, Singapore, Phillipines, Malaysia, Indonesia, Myanmar và Campuchia), báo cáo FPTS cho rằng tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) sản lượng container thông qua hệ thống cảng biển tại Việt Nam giai đoạn 2013-2020 sẽ đạt 9,2%/năm, cao nhất trong 8 quốc gia, đứng thứ hai là Indonesia với CAGR đạt 7,3%/năm và sau đó là Myanmar với CAGR là 6,6%/năm.

Nguồn :FPTS

Tuy có CAGR lớn nhất, nhưng biên lợi nhuận hoạt động trước lãi vay, thuế và khấu hao (biên EBITDA) của ngành Việt Nam lại khá thấp so với khu vực, dao động từ 37-45%, chỉ cao hơn Campuchia (26-31%) và thấp hơn 6 quốc gia còn lại. Thái Lan là quốc gia có biên EBITDA cao nhất, đạt 61-72%.

Các cảng Việt Nam đang hoạt động ra sao?

Theo báo cáo của Bộ Giao thông Vận tải trình bày tại hội nghị toàn quốc về logistics mới diễn ra vào tháng 4/2018, tính đến tháng 12-2017, tổng số bến cảng của hệ thống cảng biển là 251 bến với khoảng 88 km chiều dài cầu cảng, tổng công suất thiết kế khoảng 543,7 triệu tấn hàng/năm.

Báo cáo FPTS cho biết, so với những năm đầu tiên triển khai thực hiện quy hoạch, hệ thống cảng biển Việt Nam đã tăng lên 4,4 lần về chiều dài bến cảng (năm 2000 đạt khoảng 20.000 mét, đến thời điểm báo cáo đạt 87.550 mét).

Nhóm cảng biển miền Nam tập trung tăng công suất khai thác tại khu vực cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải Cảng biển khu vực TPHCM: cảng Cát Lái hiện đã hoạt động gần 100% công suất, điều kiện cơ sở hạ tầng tại TPHCM không cho phép có thể mở rộng hơn, trong khi đó hệ thống cảng Sài Gòn khó có đột phá về tăng trưởng, báo cáo FPTS.

Báo cáo FPTS cho rằng sẽ không còn nhiều dư địa tăng trưởng. Ngược lại, với xu hướng gia tăng kích thước tàu của thế giới, cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải sẽ được hưởng lợi. Lượng hàng hóa dư thừa từ khu vực TPHCM sẽ chuyển về cảng Cái Mép trong tương lai.

Bên cạnh đó, việc ba hãng tàu lớn của Nhật Bản là K Line, MOL và NYK sáp nhập sẽ làm gia tăng sản lượng hàng hóa tại khu vực Cái Mép Thị Vải do MOL đang có vốn đầu tư tại cảng nước sâu Tân Cảng Cái Mép (TCIT). Công ty Quốc tế Tân Cảng – Cái Mép cũng vừa thông báo đã đón container thứ 1,5 triệu qua TCIT trong năm 2018.

FPTS dự đoán, các cảng có thể tiếp nhận công suất lớn như VIP Green (VSC), Nam Đình Vũ, Nam Hải Đình Vũ (GMD), Tân Vũ (PHP), SNP sẽ có lợi thế lớn nhờ việc hàng hóa chủ yếu đóng trong container trong vòng 5 năm nữa.

Nguồn cafebiz.vn

Share